Tuesday, July 1, 2008

* Quan điểm : chính trị, xã hội

CHIA SẼ - HỘI LUẬN:
audio: SH thể chế đcsvn hiện nay (2008)
1- audio Chia sẽ về lịch sử và hiện tình đất nước (2008)
Syhoang - Pham Thế Duyệt (2007)
miền nam trước ngày 30/4/75 (2008)
Xã hội miền Nam trước 1975: hội luận
Với Nguyễn Chí Thiện
Buổi nói chuyện với Luật sư BÙI KIM THÀNH - Sàigon...
Nông dân VN và môi sinh môi trường (MT)
--------------------------------------------------------------------

LÃNH THỔ - BIỂN - ĐẢO :
* Audio/Video: LÃNH THỔ - HẢI PHẬN:

--------------------------------------------------------------------
LỊCH SỬ:
* Video: lịch sử
* Audio/Video: LÃNH THỔ - HẢI PHẬN:
* Audio: lịch sử, quan điểm, ...

CNCS :
- Trại súc vật - Animal farm (G. Orwell)
- 2- video Rebelion en la Granja - George Orwell
- 1 - video Animal Farm (ENGLISH) - Trại súc vật
- Trại súc vật
- sach-den-cncs.zip in nd-toiAcCS
- EU_nghiquyet1481_25012006en.pdf in m1toiaccs

- 20071025sh-lichsu-taihaiCncs.mp3 in nd-sh
- 20071104VDT-ve-CNCS1.mp3 in nd-hoiluan

--------------------------------------------------------------------
- vhung082205pPhamVanXo.mp3 in L2-audio
- vnguyean093005aNMCan_taKhuynh.mp3 in L2-audio
- 20071025vhn_cncs-giaiphong.mp3 in nd-cs-ch-ls


--------------------------------------------------------------------
Ca nhạc tự do công lý

Nguy cơ VN mất biển Đông và mất nước

NVQG: 03-05-06: Nhà Tây Sơn: Gs. Trần Gia Phụng


download here

NVQG: 07-15-07: Nguy cơ mất Biển Đông: Học gỉa Vũ Hữu San



download here

NVQG: 09-02-07: Tiến trình xâm lăng và Hán hóa của Trung Quốc: Gs. Đinh Khang Hoat



download here

Công Dân: 10-22-07: Bình luận gia Lý Đại Nguyên



download here

- vasia-review061704p-HDbiengioi-hauqua.mp3 in m1bannuoc
- TQVN 04-10-25 NDT ban dat bien.wma in m1bannuoc


---
Học giả Vũ Hữu San cảnh báo rằng mất Biển Đông là chúng ta mất nước Việt Nam đó. Biển Đông là nơi khai sinh nuôi dưỡng nền văn hoá nhuốm màu hàng hải của giống nòi Việt Tộc Biển Đông là nơi khai sinh nuôi dưỡng nền văn hoá nhuốm màu hàng hải của giống nòi Việt Tộc. Và trước sau gì Trung Cộng cũng sẽ đánh Việt Nam. Có thể là chúng ta sẽ bị kéo dài cái gương 1000 năm ngày xưa đấy!




download here

Tòa án Ba Lan mở lại vụ xử một nhà lãnh đạo thời Cộng sản

Tướng Ba Lan Wojciech Jaruzelski
01/07/2008


Tòa án cấp cao của Ba Lan đã ra lệnh mang nhà lãnh đạo của thời kỳ cộng sản ra xử lại về tội ban hành lệnh thiết quân luật vào năm 1981 để trấn áp các nhà hoạt động đòi dân chủ.

Lệnh của tòa thượng thẩm ở Vác-xa-va hôm thứ Hai coi như đảo ngược quyết định của tòa cấp dưới, muốn ngưng xử trong lúc các Công tố viên thu thập thêm bằng chứng, kể cả chuyện phỏng vấn các nhà cựu lãnh đạo quốc tế, như cựu Thủ Tướng Margaret Thatcher của nước Anh, hoặc cựu Tổng Thống Mikhail Gorbachev của Liên Sô trước đây.

Trong quyết định đưa ra hôm thứ Hai, tòa Thượng thẩm ở Vác-xa-va nói rằng chuyện thu thập bằng chứng xem như đã đủ, tuy nhiên, tòa không nói ngày nào sẽ xử lại.

Năm ngoái, các Công tố viên ở tòa dưới đã truy tố tướng Wojciech Jaruzelski và một số quan chức của ông về những tội xảy ra dưới thời kỳ cộng sản. Họ nói rằng, lệnh thiết quân luật mà ông Jaruzelski ban hành đã mở đường cho chuyện đàn áp phong trào Công đoàn Đoàn Kết, khiến cho hơn 100 người thiệt mạng, là một hành động phi pháp.
VOA

Chuyện ông Võ Văn Kiệt

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Người xưa, khi khen chê, phê phán một người nào đó, họ không vội kết luận. Chờ khi người đó qua đời thì người ta mới “cái quan định luận”. “Cái quan” là đóng nắp hòm lại, rồi sau đó mới “định luận” người ấy tốt xấu, độc ác hay nhân từ ra sao!

Ngày nay, chuyện luận định một người theo kiểu ông bà chúng ta ngày xưa hơi khó. Cuộc sống của người xưa đơn giản, không quan hệ nhiều với người chung quanh, với thế giới bên ngoài, cho nên việc luận định một người nào, không khó lắm, nhất là những người chỉ sống trong làng, không quan quyền chức tước gì; hoặc giả có làm gì đi nữa, cuộc đời họ cũng không có gì phức tạp, mờ ám. Thậm chí, có người thi đổ nhưng không làm quan, hoặc làm quan nhưng xin về trí sĩ khi còn trẻ, rồi làm nghề gõ đầu trẻ, truyền thụ lời giáo huấn của thánh hiền cho đám hậu sinh. Do đó, việc luận định cuộc đời họ, con người họ tương đối dễ dàng. Căn bản của chế độ phong kiến ngày trước là trung hiếu. Ai vẹn toàn hai chữ trung hiếu thì coi như để được tiếng tốt cho đời.

Ngày nay không thế, cuộc sống trong làng xã, trong quốc gia đã phức tạp mà quan hệ sinh hoạt quốc tế lại càng phức tạp hơn, thì việc luận định con người ta khó khăn hơn, rắc rối hơn.

Đối với những nhân vật lớn, công việc lại càng khó khăn bội phần.

Chẳng hạn như các ông Bảo Đại, ông Ngô Đình Diệm, ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Dương Văn Minh, ông Hồ Chí Minh, việc phê phán cái tốt cái xấu của họ, mặc dù người ta cũng có ít nhiều tài liệu chứng tỏ cái sai cái đúng của họ. Cái tốt cái xấu của mỗi người tương đối rõ ràng, chứng minh được, nhưng nếu như muốn có một lời kết thúc một đời họ, phê phán một câu, lại không phải dễ dàng, nếu muốn hoàn toàn khách quan, trung thực.

Thực vậy. Tuy không nhiều, ngày nay cũng có người lên tiếng bênh vực vua Bảo Đại, bày tỏ sự thông cảm đối với một người “làm vua một nước nô lệ”. Trường hợp tổng thống Ngô Đình Diệm lại phức tạp, khó khăn hơn. Với người miền Bắc, Việt Cộng gọi ông Ngô Đình Diệm là “Thằng Diệm”, gọi chung phe miền Nam là “Mỹ Diệm”. Cách gọi như thế, không có chi phải bàn, không đáng cho ta bận tâm. Đó là cách gọi tuyên truyền, quá khích, phỉ báng, bôi lọ, không cần phải trái, không cần đúng sai, và dĩ nhiên họ chẳng có một chút lương tâm nào.

Điều đáng nói là ngay trong những người miền Nam, người khen, kẻ chê không phải là ít. Việc khen chê ấy không thiếu phần chủ quan, thậm chí nhiều khi có dụng ý, có ý đồ. Có ý đồ nên không thể khách quan được.

Di chúc của Nhất Linh có câu: “Đời tôi để lịch sử xử…”

Trước hết, Nhất Linh muốn nói ông Ngô Đìnhh Diệm không thể đem Nhất Linh ra tòa để xử có tội hay không có tội được; lại càng không thể xử ông là người yêu nước hay không yêu nước được.

Lời ấy khá chí lý. Chúng ta có quyền gì, đứng trên lập trường, quan điểm nào, vị thế nào để phán xét người nầy có công, người kia có tội. Sự phán xét ấy thuộc về thuộc về xã hội. Nhưng thậm chí, trong nhiều trường hợp, xã hội hiện tại cũng không thể phê phán đúng về một ai.

Ông quan tòa đứng lên tuyên án người nầy người kia là có tội, không có tội, rồi cho người nầy người kia ở tù dài ngắn khác nhau, thậm chí chung thân tử hình, tha bổng. Ấy là quan tòa căn cứ trên luật pháp. Nhưng liệu luật pháp đó có đúng không, có hoàn hảo không, có sai lầm không. Điều rất rõ khi các ông quan tòa ấy là người của những chế độ độc tài, có bao giờ họ tuyên án đúng đâu!

Vậy về trường hợp ông Võ Van Kiệt thì sao?

Về ông Võ Văn Kiệt, người khen kẻ chê loạn xà ngầu. Ai khen đúng, ai chê sai. Hầu hết đều chủ quan. Những người Cộng Sản, nhất là những người từng theo phe ông Kiệt, những người không thuộc phe Lê Đức Anh, Đỗ Mười, những người từng bị Anh, Mười bỏ tù, cách chức, cho “nghỉ hưu sớm” thì khen loạn cả lên, cả Lê Hồng Hà, người từng là nạn nhân nghị quyết 31 do ông Kiệt ký, cũng khen ông Kiệt ghê gớm, thân ái gọi ông Kiệt bằng anh. Những kẻ theo phe Anh, Mười thì miệng câm như hến, khen thì không được, mà chê thì không dám chê công khai. Tựu chung, cả hai đám nầy, khen chê ông Kiệt không vô tư, không vì công lý, công bằng mà vì phe phái, quyền lợi, v.v… Dĩ nhiên, người Việt hải ngoại, những ai từng là nạn nhân Việt Cộng thì khen ông Kiệt thế nào được. Chuyện gia đình tan nát, ly tán, mất mát, chết chóc, gian khổ, đau đớn là do Việt Cộng. Trong đám Việt Cộng đó, lại không có Việt Cộng Võ Văn Kiệt hay sao?!

Tuy nhiên - lại tuy nhiên - nhìn vấn đề một cách trung thực, lương tâm, - đúng lương tâm của người Việt Nam, - không mặc cảm, không định kiến, không vì ai cả, thì phải nhìn Võ Văn Kiệt một cách khác, trước hết là nói về những cái đáng thương và sau đó, sẽ nói tới những cái sai lầm, mà sai lầm đó của ông Kiệt lại chính là tội ác của Võ Văn Kiệt đối với dân chúng, với dân tộc, ở mức độ nghiêm trọng chứ không bình thường.

Khi nghe nói vợ ông và bốn người con bị bắn chết khi đang đi trên một chiếc ghe trên sông Saigon, ngang chỗ bây giờ là bến đò đi qua Dầu Tiếng, tôi không khỏi xúc động. Đó chỉ là cái bản tính tự nhiên của một người Việt Nam. Những người chết thì đã đành, yên thân, nhưng với môt người chồng, người cha, khi nghe tin vợ và các con mình chết thảm, ai không đau đớn. Cái xúc cảm ấy là bình thường.

Tuy nhiên, với Cộng Sản thì không bình thường. Vì không bình thường nên sẽ có người chê trách tôi trong sự xúc động tôi vừa nói đấy. Ai lại có thể thương xót cho Việt Cộng!? Việt Cộng đối với chúng ta tàn ác như thế nào, “triệt để” như thế nào, chúng ta quên được chăng? Chuyện chúng ta mất cái “loon”, mất cái ghế, một chức vị, danh vọng, nói cho cùng, chẳng có gì đáng kể. Nhưng việc gia đình chúng ta ly tán, chết chóc, mất cái nhà để ở, mất cái xe để đi, con cái bị thất học, chúng ta bị tù đày, đàyđọa, bị nhục mạ, mất nhân phẩm, thì không thể là bình thường, không đáng kể được. Việt Cộng đàn áp con cái chúng ta khi chúng còn trong trứng nước. Do đó, việc vợ con ông Võ Văn Kiệt chết thảm trên sông Saigon thì cũng chỉ là “ân oán”, hại người người hại, có chi mà phải xúc động.

Tôi nghĩ tôi là người Việt Nam, tôi có những xúc cảm bình thường của một người Việt Nam. Tuy nhiên, nhưng người không đồng ý với tôi, họ có cái lý của họ, khi gia đình họ bị cuộc “cách mạng triệt để” của Việt Cộng đàn áp đến mức độ triệt để, nhất là đối với con cái của họ.

Nhiều người chế độ cũ bị bắt đi “tù cải tạo”, gia đình trải qua muôn ngàn gian khổ. Nay đuợc định cư ở Mỹ, con cái có cơ hội đi học trở lại, và thành công. Giả tỉ gia đình họ còn tiếp tục ở lại Việt Nam thì con cái họ ra sao, học hành như thế nào hay vẫn còn bị Việt Cộng đàn áp, không cất đầu lên được, tương lai mù mịt. Trong sự tàn ác đó, há không có sự đóng góp của Việt Cộng Võ Văn Kiệt hay sao?

Nhìn vấn đề một cách sâu sắc hơn, chúng ta thấy một điều rất căn bản: Vì chủ nghĩa Cộng Sản, vì đảng Cộng Sản, vì tham vọng của những tên Việt Cộng đầu sỏ, nên dân tộc Việt Nam rơi vào một cuộc chiến tranh rất tàn ác, mà lòng người thì ly tán, chia cách, thù hận, ghét bỏ nhau đến độ tán tận lương tâm, triệt tiêu cả tấm lòng nhân ái truyền thống của dân tộc. Trách nhiệm nầy, đảng Cộng Sản Việt Nam không đổ vấy cho ai được.

Về cá nhân ông Võ Văn Kiệt, tôi đưa ra một vài sự kiện cụ thể như sau:

Khi làm chủ tịch nhân dân “thành phố Hồ Chí Minh” ông là người thi hành chương trình “Kinh Tế Mới” (KTM) của Việt Cộng.

Kết quả của chương trình nầy như thế nào?

Bao nhiêu người bị bắt buộc bỏ nhà bỏ cửa ra đi, bị đày đọa trong các khu kinh tế mới, đói khổ, thiếu thốn, chết chóc vì bệnh hoạn, gia đình tan tác; nói sao cho hết. Đối với dân chúng Saigon, những ai là nạn nhân Kinh Tế Mới, chính là nạn nhân của ông Võ Văn Kiệt.

Sau khi “tù cải tạo” về, lang thang ở Saigon, tôi được nghe câu chuyện như sau:

Khi làm chủ tịch ủy ban nhân dân TPHCM, thi hành chương trình KTM, một đêm khuya Võ Văn Kiệt đi ra chỗ hồ Con Rùa thì gặp mấy con ma đói, con ma nào cũng ăn mặc rách rưới, dơ bẩn, đang nói chuyện với nhau. Một con ma hỏi hai con kia:

- “Anh chết hồi nào?”

Con ma kia trả lời:

- “Tôi chết hồi chiến tranh thế giới thứ hai.”

- “Còn anh?” Con ma thứ nhất tiếp tục hỏi.

- “Tôi chết hồi “Nam bộ kháng chiến.”

Thấy vậy, con ma thứ ba bèn nói:

- “Không! Tôi không phải là ma! Tôi mới từ khu Kinh Tế Mới mới trốn về.”

Tại sao không phải ai khác mà chính Võ Văn Kiệt ra hồ Con Rùa lúc đêm khuya để gặp ma. Người đặt ra câu chuyện ma nầy muốn nhấn mạnh ở chỗ, chính Võ Văn Kiệt là người đã tạo ra “Những con ma Kinh Tế Mới.”

Sau khi thôi làm chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố, có lần Võ Văn Kiệt mai mỉa: “Không phải khu Kinh Tế Mới mà chính là khu Kinh Tế Khác”. Có nghĩa ông ta muốn chê chương trình KTM. Nó không có gì gọi là Mới cả, chỉ mà một khu kinh tế khác mà thôi.

Ông ta biết KTM là sai lầm, và ông ta có nói như thế, cũng chỉ nói trong đám thuộc hạ của ông, với một ít trí thức miền Nam ở lại hợp tác với Việt Cộng. Chưa bao giờ Võ Văn Kiệt công khai xác nhận chương trình Kinh Tế Mới là một sai lầm lớn của đảng (CS) chứ đừng nói Võ Văn Kiệt xác nhận đó là một tai họa cho dân chúng, cho đất nước, là một tội ác, như câu nói của Khổng Tử: “Làm chính trị mà lầm là hại một nước.” Ông ta thiếu sự thành thật hay ông ta thiếu cái Dũng của người xưa. Nói như thế đều sai: Có bao giờ Việt Cộng thành thật công nhận họ đã làm sai, nghĩ bậy. Có bao giờ Việt Cộng noi theo cái Dũng của người xưa, mà họ từng phê phán, đã kích là “Phong kiến phản động.”

Khi tiếp xúc với trí thức miền Nam ở lại sau tháng Tư – 1975, Võ Văn Kiệt mới thấy Việt Cộng dốt quá. Miền Bắc “chi viện” cán bộ cho miền Nam, những cán bộ đó i-tờ quá, không biết gì, không làm được gì, trong khi đó thì trí thức miền Nam ở lại chính là những người “mở mắt” cho Võ Văn Kiệt, vì vậy, ông ta yêu cầu cán bộ Việt Cộng không được gọi họ là “ngụy” như đường lối chính sách của đảng (Cộng Sản). Võ Văn Kiệt nói: “Gọi họ là “ngụy” mà chúng ta phải học hỏi nơi họ thì nghe kỳ quá.” Một vài người tôi quen ở trong “Hội Trí Thức Yêu Nước”, số 42 đường Nguyễn Thị Minh Khai kể cho tôi nghe câu chuyện đó, và họ phê phán rằng ông Võ Văn Kiêt cũng không dám công khai nói thẳng việc ấy ra để sửa đổi phương cách tuyên truyền của Việt Cộng. .

Những người khen ông Võ Văn Kiệt cho rằng ông là “kiến trúc sư” của chương trình đổi mới, cởi trói… gì đó. Một người học chưa quá bậc tiểu học nhìn và thấy được tình hình đất nước như thế, đổi mới như thế thì cũng gọi là tạm được.

Tại sao tôi gọi là tạm được?

Là bởi ông Võ Văn Kiệt, ông Nguyễn Văn Linh, những người chủ trương đổi mới cũng chỉ là người đi học mót người ta chớ có phải sáng kiến, tiên tri, tiên đoán gì đâu. Chẳng qua thấy bên Liên Xô, ông Gorbachov đổi mới, cởi trói thì “quý ông” bên Việt Nam cũng làm theo cho đúng với bài bản của sư phụ, chứ không phải tự họ thông minh, sáng kiến, tìm được com đường phải đi. Còn lòng dạ họ thì một mực trung thành với chủ nghĩa Cộng Sản, chủ nghĩa Mác. (Bây giờ người ta chỉ nghe ông Võ Văn Kiệt nói chủ nghĩa Mác mà không nói Mác-Lê(nin). Họ thấy được Lênin là tay “bá đạo” rồi chăng?

Võ Văn Kiệt chỉ thuộc bài có nửa chừng, còn nửa kia, thì không thuộc vì nhát gan hay tối dạ?

Nửa kia là nửa gì?

Gorbachov, tiếp nối là Yeltsin. Yeltsin cũng là môt ủy viên trung ương đảng Cộng Sản Liên Xô nhưng ông ta sổ toẹt vào cái ủy viên đó, vào cái đảng đó. Yelsin từ bỏ đảng Cộng Sản, đuổi nó ra khỏi chính quyền, thành lập một nước Nga mới có dân chủ, có tự do. Nhờ đó nên Yeltsin trở thành anh hùng của dân tộc Nga. Dân Nga ngày nay thoát ách độc tài đảng trị, có tự do, có dân chủ, chính là nhờ sự sáng suốt và can đảm, dứt khoát của Yeltsin.

Võ Văn Kiệt không thể đi tiếp đoạn đường thứ hai mà Yeltsin đã đi. Do đó mới có cái quái thai “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Võ Văn Kiệt không thể là một anh hùng, một người cứu dân cứu nước như Yeltsin đã làm. Đảng Cộng Sản Việt Nam không có anh hùng, hay Việt Cộng đã làm tiêu tán tinh thần anh hùng của Lê Lợi, của Nguyễn Biễu, của Nguyễn Thái Học, Ký Con. v.v…và tạo ra những con thiêu thân Phan Đình Gíot, Cù Chính Lan, Lê Mã Lương rồi tuyên truyền họ là những anh hùng xã hội chủ nghĩa.

Kết quả đổi mới của ông Võ Văn Kiệt đã đem lại được gì?

Trước hết là một giai cấp mới: giai cấp đảng viên tư sản đỏ. Giai cấp nầy càng giàu lên mau chóng thì thành phần đối nghịch là người nghèo càng ngày càng nghèo hơn. Càng đói rách hơn, sự phân biệt, hố chia cắt giữa giàu nghèo càng rộng lớn hơn. Nhìn chung, đa số dân chúng vẫn cứ tiếp tục sống đời nghèo khổ, thiếu thốn. Dù Võ Văn Kiệt có lòng thương người, thương dân thì kết quả việc ông làm có kết quả trái ngược lại.

Hiện giờ, dân tộc còn lầm than, đói khổ, thiếu thốn, không có tự do, dân chủ, cũng chính là Võ Văn Kiệt góp phần không nhỏ vậy. Đó là chưa kể điều đáng phê phán nhứt là Nghị quyết 31 do Võ Văn Kiệt ký. Đó là một biện pháp đàn áp những người yêu dân chủ, tự do một cách hiệu quả nhứt, tàn ác nhứt, phi dân chủ nhứt, trái luật pháp nhứt, vi phạm hiến pháp nhứt dù đó là hiến pháp của Việt Cộng.

Tục ngữ Tây phương có câu: “Trong đám người mù, kẻ chột là vua”. Đám chóp bu ngồi ở Bắc Bộ phủ là một đám mù, mặc dù như Lê Đức Anh, trong thực tế, chỉ mới bị chột. Trong số đó, Võ Văn Kiệt là người chột. Dù ông ta có tài ba khôn khéo, lòng dạ tốt như thế nào, thì ông ta nhìn mọi vấn đề đất nước, dân tộc chỉ mới bằng một mắt, thua xa người nhìn vấn đề bằng cả hai mắt.

Thật ra, Võ Văn Kiệt vẫn còn tin tưởng một cách triệt để vào chủ nghĩa Mác, vẫn còn mù quáng khi ông còn cho rằng “Mác là vĩ đại”. Từ chỗ mù quáng đó, Võ Văn Kiệt cho rằng chính nhờ chủ nghĩa Cộng Sản nên Cộng Sản Việt Nam đã thắng Pháp năm 1954, thắng Mỹ năm 1975 và đổi mới năm 1985, sau “mười năm giải phóng, thống nhứt đất nước”

Từ chỗ mù quáng đó, Võ Văn Kiệt không thấy rằng Cộng Sản Việt Nam đã gây nên biết bao tội lỗi: Tàn sát những người yêu nước không theo Cộng Sản, giết chết hàng vạn người trong “Cải Cách Ruộng Đất”, gây chiến tranh làm cho hàng triệu người chết khi “xâm lược miền Nam Việt Nam”… Cũng chính vì sự mù quáng đó mà Võ Văn Kiệt đã đẩy hàng vạn người lâm vào cảnh đói khổ, chết chóc ở các khu Kinh Té Mới do chính Võ Văn Kiệt lập ra.

Nói cho cùng, Võ Văn Kiệt có tán tận lương tâm cũng chính vì cái tham vọng quyền lực của ông ta cũng như những tên ngồi trong bộ chính trị, những tên chóp bu Việt Cộng.

Họ chỉ là một nhóm người hơn mười người. Họ cho người nầy làm vua (Chủ tịch nước), người kia làm thủ tướng, người nọ làm sếp sòng quốc hội, làm bộ trưởng, thứ trưởng, v.v… Họ chính là những kẻ “Siêu quyền lực”, “siêu quốc gia”, “siêu dân tôc”. Vua cũng từ đám đó mà ra, quyền lực cũng từ đám đó mà ra, “quốc gia” cũng từ đám đó mà ra, “dân tộc” cũng từ đám đó mà ra.

Dù Võ Văn Kiệt, dù Lê Đức Anh, hay Đỗ Mười, không dễ gì họ từ bỏ cái tham vọng quyền lực. Không từ bỏ tham vọng quyền lực thì không thể từ bỏ Cộng Sản vì chính đảng Cộng Sản là nền tảng quyền lực của họ. Không thể từ bỏ Cộng Sản thì đất nước không thể có tự do, dân chủ. Do đó, không ai có thể nào thương yêu hay kính trọng đám người đó được, chưa nói căn ghét, thù hận.

Đảng Cộng Sản Việt Nam biết bao giờ mới có được một người như Yeltsin, biết nhìn vấn đề, có đủ khôn ngoan và can đảm để làm mọt cuộc cách mạng, đem lại tự do, dân chủ cho dân chúng bằng cách tự ý ra khỏi đảng và đẩy đảng Cộng Sản ra khỏi chính quyền???!!!

hoànglonghải

Phụ lục:

Yeltsin từng là một thành viên Đảng cộng sản Liên xô (CPSU) từ 1961 đến tháng 7, 1990, Trong 30 năm hoạt động với tư cách một đảng viên cộng sản, Yeltsin đã phát triển các mối quan hệ với những nhân vật chủ chốt bên trong cơ cấu quyền lực Sô viết.

Ông được chỉ định vào Bộ chính trị, và kiêm chức "Thị trưởng" Mátxcơva. Năm 1987, sau một cuộc đối đầu với Yegor Ligachev, người theo đường lối cứng rắn, Yeltsin bị hất khỏi các cương vị cao trong đảng. Ngày 21 tháng 10, 1987 trong phiên họp toàn thể Ủy ban trung ương Đảng cộng sản Liên xô, Yeltsin, to tiếng lên án Bộ chính trị, đòi từ chức khỏi bộ chính trị. Những lời chỉ trích của Yeltsin tiếp tục diễn ra ngày 11 tháng 11, 1987 tại phiên họp của Ủy ban đảng thành phố Mátxcơva. Ông không bị phát vãng hay bị bỏ tù như những trường hợp trước đó, Ông ở tình trạng rối loạn và nhục nhã nhưng đã bắt đầu sắp đặt kế hoạch trả thù. Cơ hội của ông đến khi Gorbachev thành lập Đại hội đại biểu nhân dân. Ông phục hồi chức vụ và bắt đầu chỉ trích mạnh mẽ Gorbachev, lấy sự chậm chạp trong quá trình cải tổ ở Liên xô làm mục tiêu.

Những lời chỉ trích của Yeltsin nhắm vào bộ chính trị và Gorbachev khiến ông phải chịu một chiến dịch bôi nhọ chống lại mình. Những người tổ chức chiến dịch bôi nhọ đó chắc chắn đã tin rằng việc tống khứ Yeltsin quá dễ dàng để thực hiện với những vụ scandal gây ra bởi cách cư xử vụng về của ông Yeltsin. Tuy nhiên, tình cảm bất mãn của dân chúng với chế độ lúc ấy rất mạnh mẽ, và bất kỳ một nỗ lực nào nhằm bôi nhọ Yeltsin chỉ càng khiến ông nổi tiếng hơn.

Tháng 3 năm 1989, Yeltsin được bầu vào Đại hội đại biểu nhân dân với tư cách đại biểu quận Mátxcơva và giành được ghế trong Sô viết tối cao. Tháng 5 năm 1990, ông được bầu làm chủ tịch Đoàn chủ tịch Sô viết tối cao Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Sô viết Nga (RSFSR). Ông được cả những thành viên theo hướng dân chủ và bảo thủ trong Sô viết tối cao, đang tìm cách nắm thêm quyền lực trong tình hình chính trị biến động của đất nước, ủng hộ.. Trong một nỗ lực nhằm giành thêm quyền lực vào tay mình, ngày 12 tháng 6, 1990, Đại hội đại biểu nhân dân RSFSR đã đồng ý đưa ra một tuyên bố về chủ quyền và Yeltsin rời khỏi Đảng cộng sản tháng 7, 1990.

Ngày 12 tháng 6, 1991, Yeltsin thắng 57% số phiếu bầu trong cuộc bầu cử tổng thống dân chủ của nhà nước cộng hòa Nga, đánh bại ứng cử viên được Gorbachev hậu thuẫn, Nikolai Ryzhkov.

Trong chiến dịch tranh cử của mình, Yeltsin đã chỉ trích “sự chuyên chính của trung ương”, nhưng không đưa ra đề xuất về một nền kinh tế thị trường. Thay vào đó, ông nói rằng ông sẽ đưa đầu vào đường ray tàu hỏa nếu giá cả tăng lên. Yeltsin nhậm chức ngày 10 tháng 7.

Ngày 18 tháng 8, 1991, một vụ đảo chính lật đổ Gorbachev do những người cộng sản theo đường lối cứng rắn dưới sự lãnh đạo của Vladimir Kryuchkov diễn ra. Gorbachev bị giữ tại Crimea trong Yeltsin chạy vội tới Nhà trắng Nga (trụ sở Sô viết tối cao RSFSR) ở Mátxcơva để dẹp cuộc đảo chính. Nhà trắng bị quân đội bao vây nhưng quân đội đã thay đổi thái độ khi đối diện với những cuộc tuần hành lớn của nhân dân. Yeltsin đã phản ứng với cuộc đảo chính bằng một bài diễn văn đáng nhớ trên tháp pháo một chiếc xe tăng. Tới ngày 21 tháng 8, đa số lãnh đạo cuộc đảo chính đã phải bỏ chạy khỏi Mátxcơva và Gorbachev đã được “giải cứu” khỏi Crimea. Sau đó Gorbachov quay lại Mátxcơva. Sau này Yeltsin được những người ủng hộ trên khắp thế giới ca ngợi vì đã kêu gọi dân chúng đứng lên tuần hành phản đối vụ đảo chính.

Tháng 11 năm 1991, Yeltsin ra một nghị định cấm Đảng cộng sản trên toàn bộ nước Nga.
(VNE)

Về “Ho Chi Minh, the missing years” (Kết)

Minh Võ

Sophie Quinn-Judge và Ho Chi Minh, the missing years

Hơn 40 trang chương 5 dành bàn về cao trào cách mạng trong 2 năm 1930 và 1931. Đoạn đầu nói tới sự trở về của các cựu học viên trường Stalin trong đó tác giả nhấn mạnh vai trò của Trần Phú để chứng minh Hồ Chí Minh không phải đại diện duy nhất của Quốc Tế Cộng Sản trong việc thống nhất đảng Cộng Sản Đông Dương. Cuối cùng tường thuật những việc làm của Hồ để thực hiện việc thống nhất này, tác giả viết:


“Hai ngày sau khi tới Hồng Kông, Hồ viết cho các lãnh tụ phe phái trong Đông Dương Cộng Sản Đảng để giải thích về sứ mạng mà Quốc Tế Cộng Sản đã trao cho mình nhằm thành lập một đảng cộng sản tại Việt Nam....Ông ta yêu cầu phe Đông Dương Cộng Sản gửi hai đại diện sang gặp ông ta ở Hồng Kông. Hồ cũng viết cho Viễn Đông Vụ (FEB) để loan báo sự có mặt của mình tại Hồng Kong và đệ trình những đề nghị. Theo Dương Hắc Định thì Hồ đã xin một khoản lương hàng tháng là 240-300 tiền Trung Hoa, trả qua ủy ban Quốc Dân Đảng của đảng Cộng Sản Trung Quốc.” (15)

Về cuộc bột phát cách mạng tại Trung Quốc và vùng Nam Hải, tác giả viết:

“Hồ Chí Minh lúc này xem ra đã lên tới tột điểm uy quyền trong Quốc Tế Cộng Sản dường như đã trở lại Hồng Kong để giải quyết một tình thế ngoài vòng ảnh hưởng của ông ta.” Rồi trích dẫn một tài liệu của Hồ liên quan đến việc chuẩn bị cho cuộc nổi dậy vũ trang: “Ông Hồ nói một cách rõ ràng: “Nhiệm vụ quân sự của đảng bao gồm: huấn luyện quân sự cho các đảng viên; tuyên truyền vận động quần chúng trong quân đội; tổ chức những toán bảo vệ công nhân và nông dân”. Ông ta dành hầu hết sự chú tâm của mình cho công việc tuyên truyền và khuấy động trong quân đội”. (16)
Giải thích tại sao Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến tuyên truyền trong quân đội, tác giả viết:
“Hồ nói: binh sĩ bản xứ bị bắt vào quân đội xuất thân từ những làng mạc, nên đừng đối xử với họ như “tất cả đều là chó săn” của đế quốc. Ông ta chỉ rõ: Trong một cuộc biểu tình tại Chợ Lớn, nông dân đã phạm lỗi lầm xỉ vả binh sĩ, thay vì tuyên truyền vận động họ.”
Đây là điểm đặc biệt quan trọng chứng tỏ Hồ thấu đáo sách lược Lenin trong vấn đề thuộc địa và dân tộc nhưng tác giả có vẻ ít quan tâm, nếu không muốn nói là không có ý nghĩ gì về vấn đề. Tác giả viết tiếp:
Ông Hồ nói: “Trong công tác tuyên truyền khuấy động quần chúng, đảng phải truyền bá chương trình ‘cách mạng dân chủ tư sản’ trong đám binh sĩ, và dùng tình cảm dân tộc để làm cho họ tán thành phong trào cách mạng của công nhân và nông dân và chấp nhận sự lãnh đạo của đảng”.

Mấy chữ “chấp nhận sự lãnh đạo của đảng” có nghĩa là chấp nhận quyền lãnh đạo độc tôn tuyệt đối của Cộng Sản và như thế thì cái gọi là cách mạng dân chủ tư sản (mà Hồ bảo phải truyền bá) chỉ còn là sự lừa phỉnh.

Áp chót chương 5, tác giả nói về cuộc hôn phối giữa Hồ Chí Minh và Nguyễn Thị Minh Khai với các từ seems (2 lần), assume, apparently, unknown... Nhưng theo bà, trường hợp Minh Khai là một trong hai trường hợp rõ ràng nhất vì có chứng từ hẳn hoi. Trường hợp kia là Tăng Tuyết Minh. Đoạn trích dịch dưới đây được tác giả đặt trong ngoặc đơn:


Nguyễn Thị Minh Khai (1910 – 1941)
Nguồn: DCVOnline
------------------------------------------------------------------------

(Những nguồn tài liệu của Pháp liên quan đến Minh Khai khiến người ta có thể tin rằng cô này đã có nhiều mối tình với các đồng chí trong thập niên 1930-1940. Ví dụ, năm 1932 sở cảnh sát tin chắc cô ta là người tình của Trần Ngọc Danh, em (tổng bí thư) Trần Phú. Năm 1933 họ lại chặn bắt được một lá thư viết từ Hồng Kông, hình như (seemingly) để cự tuyệt một kẻ theo đuổi mình, trong thư đó nàng tuyên bố “tôi không còn bị ám ảnh bởi ý tưởng lấy chồng hay làm mẹ... Người chồng duy nhất của tôi là Cách Mạng Cộng Sản.” Nhưng khoảng cuối năm 1934, khi đã ở Mạc Tư Khoa, nàng viết mình đã lấy chồng là Lin, bí danh của Hồ lúc ấy. Những tiểu sử gia Việt Nam nói Minh Khai kết hôn với Lê Hồng Phong tại Mạc Tư Khoa vào năm 1935, nhưng không có tài liệu nào thời đó chứng minh.) (17)

Cuối chương 5 bàn về hội nghị trung ương tháng 03/1931 do Trần Phú điều khiển với một nghị quyết cứng rắn mang tính giai cấp rõ rệt đã dẫn đến một cuộc thanh trừng nội bộ. Những phần tử trí thức, những kẻ còn giữ xu hướng quốc gia dân tộc đều bị loại khỏi đảng. Tác giả viết:

“Bản nghị quyết ghi: Một trong những mối nguy to lớn nhất là đảng viên vẫn chưa hiểu rõ vị thế của giai cấp vô sản trong cách mạng và các nhiệm vụ của đảng…Cần phải dần dần thay thế đại diện của trí thức và những phần tử bảo thủ trong các cơ quan lãnh đạo bằng những công nhân và bần nông. Đảng nhận chỉ thị phải điều tra các nông hội và loại những phần tử không liên hệ với bần nông và công nhân thành thị. Cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn cần được mở rộng và mọi ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc phải được phá hủy tận gốc rễ…” (18)

Sau đó tác giả thuật lại cuộc thanh trừng nội bộ và diễn biến của Xô Viết Nghệ Tĩnh khiến hàng ngàn “chỉ điểm viên” hay những nông dân muốn ngăn chặn phong trào bị tàn sát, để rồi sau đó Pháp có cớ mở các cuộc tảo thanh bắt giữ và xử tử hàng trăm đảng viên Cộng Sản. Từ đó kết thúc cao trào cách mạng.

Chương 6 mang tựa đề “Chết ở Hồng Kông, chôn tại Mạc Tư Khoa” bàn về hoạt động của Hồ Chí Minh từ 1931 đến 1938. Nói về thời gian bị tù tại Hồng Kông, tác giả cho biết Hồ Chí Minh đã theo chiến thuật bào chữa được Quốc Tế Cộng Sản cổ võ, khai là một người yêu nước đấu tranh cho vua và tổ quốc Việt Nam, dù trong hộ chiếu ghi là người Trung Hoa! Tháng 07/1931, tổ chức Viện Trợ Quốc Tế Đỏ (International Red Aid) xếp đặt để một luật sư đoàn tài giỏi do Frank Loseby lãnh đạo bào chữa cho Hồ. Ít hàng sau bà nói đến một cuộc vận động cánh tả trong khắp thế giới nhằm ủng hộ cho một Noulens bí nhiệm đã khiến vụ án Hồ Chí Minh được chú ý nhiều hơn. (19)

Theo tác giả, tháng 07/1934 Hồ Chí Minh mới đến Mạc Tư Khoa và tháng 10 được vào trường Lênin. Thời gian đó Đông Dương chỉ riêng Hồ Chí Minh học trường này. Kirsanova, giám đốc trường mô tả đây là lò rèn duy nhất (the only forge) rèn luyện cán bộ cho Quốc Tế Cộng Sản và được coi như viện đào tạo lãnh tụ cộng sản ngoại quốc. Nhưng Hồ Chí Minh bị đối xử như một phần tử thất sủng. Tác giả cũng cho biết Hà Huy Tập đã giới thiệu Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Quốc tham dự đại hội 7 Quốc Tế Cộng Sản cùng với Lê Hồng Phong và chính Khai cũng khai mình đã thành hôn với Lin, là bí danh của Hồ lúc ấy. Nhưng Hồ Chí Minh không khai chuyện này trong hồ sơ lý lịch nhập học trường Lênin.

Về đại hội 7 Quốc Tế Cộng Sản, tác giả cho biết Hồ Chí Minh đã viết bản phê bình các thất bại của Đảng Cộng Sản Đông Dương hai năm 1930-1931, và còn nhiều báo cáo khác nữa, nhưng những báo cáo này không thấy trong văn khố liên bang Nga! Trong bản phê bình, Hồ Chí Minh nhắc đến “cách mạng dân chủ tư sản” và bảo cán bộ chẳng hiểu gì về ý nghĩa mấy từ đó. Vì vậy Hồ đề nghị biên soạn một loạt sách mỏng đơn sơ dễ hiểu về bản Tuyên Ngôn Cộng Sản, lịch sử Quốc Tế Cộng Sản, vấn đề chủ nghĩa dân tộc, vấn đề ruộng đất và kết thúc bằng “cách thành lập mặt trận thống nhất” và những nghị quyết của Quốc Tế Cộng Sản về vấn đề thuộc địa. Bà viết:

“Hồ biết cách lựa đúng lúc để trưng dẫn Stalin. Ông ta viết: “Stalin nghìn lần có lý khi nói: “Lý thuyết cho các đồng chí ... quyền lực chỉ huy, tương lai trong sáng, đức tin trong việc làm và sự xác tín về lẽ tất thắng của chính nghĩa.”

Tác giả cũng cho biết sau khi Hồ Chí Minh bị bắt, được thả rồi sang Liên Xô, uy tín của Hà Huy Tập đã tăng nhanh. Hà Huy Tập đã tố cáo Trần Văn Giàu và Hồ Chí Minh trong báo cáo gửi Đệ Tam Quốc Tế nên thời gian đại hội 7 có lẽ Hồ Chí Minh mất tín nhiệm thê thảm nhất. (20)


Hà Huy Tập (1906 – 1941)
Nguồn: thanhdoan.hochiminhcity.gov.vn
-------------------------------------------------------------------------

Khi Hồ Chí Minh và Lê Hồng Phong đều ở Mạc Tư Khoa, đại hội I Đông Dương Cộng Sản Đảng ở Ma Cao cho Hà Huy Tập quyền điều khiển đảng. Đại hội chỉ cho Hồ Chí Minh làm ủy viên trung ương dự khuyết. Trái lại Hà Huy Tập tự dành địa vị trong Hải Ngoại Vụ là cơ quan có quyền hướng dẫn trung ương đảng về chính trị. Cuối bản báo cáo đọc trước đại hội, Hà Huy Tập đã tố cáo Hồ Chí Minh và kết luận: “Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin phải đích thân viết một cuốn sách nhỏ tự phê chính mình và những sai sót đã qua.” (21)

Tác giả nhắc việc Hà Huy Tập cáo buộc Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm về hàng trăm đảng viên bị bắt ....(như phần đông các tác giả trước đã viết) và còn cho biết Hà Huy Tập quả quyết chính tổng bí thư cộng đảng Xiêm, từng theo chân Hồ cũng nói trước 1930 Hồ không phải là cộng sản. Theo tác giả, Hồ đã bị điều tra bởi bộ ba gồm Manuilsky, Kang Cheng và Vera Vasilieva. Manuilsky trung lập, Kang Cheng đòi hành quyết, còn Vera thì bênh, viện lẽ Hồ sai lầm chỉ vì thiếu kinh nghiệm.

Về đại hội VII, Quốc Tế Cộng Sản, tác giả nhắc lại việc đưa ra đường lối ủng hộ một liên minh với cánh tả dân chủ xã hội nhằm chống Phát Xít tại Âu châu và cho là Hồ đã đi trước thời đại khi muốn nhìn lại những thất bại trong 2 năm 1930-1931 liên quan đến sự hiểu lầm “cách mạng dân chủ tư sản”.

Như đã biết, sau đại hội VII mặt trận Bình Dân (hay dân tộc) ra đời tại Pháp và sách lược mặt trận thống nhất dân tộc được áp dụng trở lại. Do đó trung ương Đông Dương Cộng Sản đảng cũng có những chỉ thị, lời kêu gọi và thư ngỏ cổ võ liên hiệp giữa các phe phái nhằm thống nhất “phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương”.

Chương 6, tác giả cho biết sau đại hội VII, Hồ Chí Minh tiếp tục theo học tại trường Lenin tới hết năm 1935. Năm 1936 ông sang trường Stalin làm việc chung với Vera Vasilieva, phụ trách giảng dạy các học viên Việt Nam. “Làm việc với Lin thật thích thú...” Vera nói vậy! Vera là người từng bênh vực Hồ và là người cùng với lãnh tụ Manuilsky đặc trách các vấn đề Đông Dương trong Quốc Tế Cộng Sản.

Cuối năm 1936, Vera đưa kế hoạch lập trường huấn luyện tại Trung quốc và phái Hồ sang đó để tổ chức và điều khiển trường này. Bà dự trù một ngân sách 3000 Mỹ Kim để đào tạo 10 học viên cho mỗi 2 tháng. Nhưng cuối cùng dự án bị hủy bỏ nên Hồ tiếp tục ở lại Liên Xô cho đến 1938.

Tác giả cũng nêu sự kiện trong khi Hồ chỉ làm việc phiên dịch và dạy cho học viên người Việt theo một thứ bậc thấp, Nguyễn Khánh Toàn được cử làm giảng viên thực thụ. Tác giả viết về hoàn cảnh và vị thế chênh vênh của Hồ trong giai đoạn này như sau:

“Khó tưởng tượng nổi một đảng viên kỳ cựu như Hồ Chí Minh có thể tiếp tục hoạt động qua thời kỳ điên loạn này. Nhưng tháng 1-1938 ông vẫn còn đang dịch những lá thư hiếm hoi từ Đông Dương gửi tới. Việc ông sống sót qua những năm kinh khủng nhất của thời kỳ thanh trừng thường được coi là dấu chỉ của sự bảo vệ mà một cán bộ cao cấp sống sót là Manuilsky đã dành cho ông. Nếu không phải vậy thì chỉ vì ông là một kẻ theo chủ nghĩa Stalin trung thành mà thôi.”

Cuối cùng Hồ cũng được cho rời khỏi trường và chẳng bao lâu sau trở lại Trung Quốc.

Chương 7, Hồ Chí Minh trở lại Trung Quốc mùa thu 1938, khi Liên Xô và Trung Hoa Quốc Gia tái lập liên minh với hiệp ước bất tương xâm được một năm và Mặt Trận Bình Dân ở Pháp đã sang năm thứ hai. Sự liên minh mới này dẫn đến tái lập mặt trận thống nhất dân tộc giữa Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng Trung Quốc nhằm chống Phát Xít.

Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ bí mật mà Hồ nhận từ Quốc Tế Cộng Sản – gồm 8 điểm phải học thuộc lòng, như tác giả ghi rõ – để đem về áp dụng là đưa đảng Cộng Sản Đông Dương vào một “mặt trận dân chủ dân tộc rộng rãi” gồm cả những Pháp kiều tiến bộ và giới tư sản dân tộc. (22) Xin lưu ý mấy chữ nhiệm vụ bí mật mà Hồ nhận từ Quốc Tế Cộng Sản.

Mùa xuân năm trước, 1937, Minh Khai và Hoàng Văn Nọn cũng học thuộc lòng huấn thị của Quốc Tế Cộng Sản để mang về Hồng Kông, chuyển giao cho Hải Ngoại Vụ của Quốc Tế Cộng Sản. Theo tác giả, huấn thị này rất gần với huấn thị 8 điểm mà Hồ đã mang theo.

Lại xin lưu ý mấy chữ học thuộc lòng và nhớ lại Hồ Chí Minh cũng học thuộc lòng 8 điểm chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản. Học thuộc lòng tức không có văn bản mang theo. Các tổ chức bí mật, tổ chức đen, Mafia thường chỉ ra lệnh miệng. Những việc tàn ác tầy trời của Cộng Sản Việt Nam cũng như Cộng Sản thế giới phần nhiều do lệnh miệng của lãnh tụ. Nếu theo nguyên tắc pháp lý của chế độ dân chủ Tây Phương để xét hành động của Cộng sản, nhất là Cộng Sản Trung Hoa và Cộng Sản Việt Nam e là khó tránh lầm lạc.
Tác giả viết:

“Tháng 4-1938, ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Đông Dương đã thỉnh cầu Quốc Tế Cộng Sản gửi đều đặn huấn thị về các vấn đề chính trị, tổ chức và mỗi 5 hoặc 6 tháng, phái một đồng chí lãnh đạo mang những huấn thị đó cùng với tài chính viện trợ. Thêm vào khoản tiền ứng trước 5000 MK để in sách, họ cũng xin gửi cố vấn và ngân khoản để mở một trung tâm huấn luyện hợp pháp tại Trung Quốc theo đường lối những năm 1926-1927. Có thể Hồ Chí Minh được phái sang Trung Quốc lần này là thể theo lời thỉnh cầu đó.” (23)

Tuy nhiên, tình hình Đông Dương lúc ấy không giống tình hình Trung quốc. Cho nên việc thực hiện sách lược mặt trận dân tộc dân chủ năm 1939 đã gây tranh luận giữa các lãnh tụ Đông Dương Cộng Sản Đảng như Phan Văn Tạo, người từng dự đại hội VI Quốc Tế Cộng Sản, Lê Hồng Phong, nguyên tổng bí thư và từng đại diện Đông Dương Cộng Sản Đảng tại đại hội VII Quốc Tế Cộng Sản và Nguyễn Văn Cừ, tổng bí thư lúc ấy. Theo tác giả, lập trường của Nguyễn Văn Cừ trong cuốn Tự Phê tóm lại là:

“Chính sách của đảng là ủng hộ việc thành lập mặt trận dân chủ – nhưng mặt trận này phải thành lập trong phạm vi những phong trào đấu tranh quần chúng mạnh mẽ. Mặt trận dân chủ phải là một hình thức đấu tranh giai cấp cũng như kháng chiến chống đế quốc”.

Về hoàn cảnh của Hồ Chí Minh, tác giả viết:

“Khi đọc những bài báo của Hồ Chí Minh trên tờ Notre Voix, người ta thấy hoàn cảnh của ông ở giữa cuộc chiến Hoa – Nhật là một thế giới riêng biệt khác hẳn Sài Gòn với các cuộc bầu cử lúc ấy. Ông đã dấn thân vào công việc tuyên truyền ủng hộ Trung Quốc, xây dựng niềm tin vào khả năng kháng Nhật của nó. Tháng 8 và tháng 9-1939, tình hình quốc tế thay đổi đã đưa Đông Dương Cộng Sản Đảng vào những cuộc tranh luận nội bộ gay gắt: Ngày 23-8, hiệp ước Molotov-Ribbentrop bỗng đặt những người cộng sản theo Liên Xô vào chung chiến tuyến với Đức Quốc Xã. Và, chiến tranh bùng nổ tại Âu châu, khi Đức tiến đánh Ba Lan ngày 1-9-1939. Ngày 28-9, toàn quyền Pháp ở Đông Dương đặt đảng cộng sản ra ngoài vòng pháp luật và suốt trong một năm cộng sản đệ tam cũng như đệ tứ đều bị lùng bắt.”

Về hội nghị trung ương kỳ VI và những cuộc nổi dậy năm 1940, tác giả cho biết đa số cán bộ lãnh đạo Đông Dương Cộng Sản Đảng tán thành nổi dậy để phản ứng lại tình hình thay đổi lúc ấy bằng cách thành lập mặt trận thống nhất phản đế cuối năm 1939. Lúc ấy giải phóng dân tộc trở thành mục tiêu chính. Trong một thông tư phổ biến tháng 12-1939, Đảng Cộng Sản kêu gọi các lực lượng đấu tranh của vô sản, nhân dân lao động các nước nhược tiểu “hãy đoàn kết với Liên Xô”. Hãy vùng lên đấu tranh “để dập tắt ngọn lửa chiến tranh bằng cách loại trừ tận gốc là hệ thống đế quốc tư bản.” (24)

Nhưng cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ đã thảm bại, dẫn đến hàng trăm đảng viên bị bắt và bị hành quyết. Theo Trần Huy Liệu, có tới 100 cán bộ lãnh đạo bị giết. Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Hữu Tiến tất cả đều bị hành quyết trong tháng 8-1941. Lê Duẩn và nhiều đảng viên cộng sản khác như Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo ngồi tù cho tới khi Nhật đầu hàng năm 1945. Riêng Lê Hồng Phong chết trong tù năm 1942.

Từ đó Hồ trở nên lãnh tụ danh chính ngôn thuận (nguyên văn: legitimate leader). Ngay Trường Chinh cũng phải được Hồ chấp thuận mới được giữ chức tổng bí thư. (25)

Đoạn cuối chương 7 và cũng là đoạn chót của tác phẩm, trước khi tóm tắt để kết luận:

“Tháng 10-1940 Hồ Chí Minh và đám cận thần từ Côn Minh đến Quế Lâm. Đây chính là thời điểm cộng sản hải ngoại quyết định dùng cái vỏ (26) Việt Minh cho mặt trận dân tộc của mình. Đây cũng chính là tổ chức đã được thành lập tại Nam Kinh năm 1936 bởi Hồ Học Lãm, Hoàng Văn Hoan, Lê Thiết Hùng, Phi Vân, Nguyễn Hải Thần và một số người khác. Vì tổ chức này là tổ chức được chính thức đăng ký ở Trung Quốc nên trở thành cơ cấu thích hợp cho những mục tiêu của Hồ Chí Minh.” (27)

Tác giả cũng nhắc đến “Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Đồng Chí Hội” (28) của Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần thành lập năm 1941 và bảo cái nhân (nucleus) của nó là Việt Minh. Như vậy Việt Minh vừa là cái vỏ của đảng Cộng Sản vừa là cái nhân của tổ chức của Trương Bội Công. Điều lạ là tác giả không nói đến việc Hồ Chí Minh lập Mặt Trận Việt Minh tại Pác Bó và cũng không kể chi tiết về tổ chức của Trương Bội Công.

Tác giả nhấn mạnh sự kiện hội nghị 8 trung ương Đông Dương Cộng Sản Đảng do Hồ Chí Minh chủ tọa sau ngày trở lại Trung Quốc và dựa theo báo cáo của mật báo viên bí danh “Ursule” tìm thấy trong văn khố Pháp Quốc Hải Ngoại (AOM), để khẳng định hội nghị này được tổ chức ở Tĩnh Tây, Quảng Tây, chứ không phải ở trong quốc nội. Ủy ban trung ương đảng họp trên lầu, còn ủy ban Bắc Kỳ họp ở tầng trệt. Hồ Chí Minh dự cả hai, sáng với trung ương và chiều với địa phương. Trong hội nghị kỳ 8, Trường Chinh được chính thức xác nhận là tổng bí thư đảng. Tác giả nêu lên thành tích của ông Hồ trong việc sát nhập Đông Dương Cộng Sản Đảng vào mặt trận thống nhất với Trung Hoa Quốc Dân Đảng và các đảng phái quốc gia Việt Nam có đại diện ở biên giới.

Cuối chương 7, tác giả cho biết “mặc dầu Liên Xô đã trở lại với liên minh thế giới chống Phát Xít vào tháng 6-1941, nhưng lúc này hoàn toàn bị thu hút vào cuộc chiến sinh tử với quân Đức, nên không còn chú ý đến Á châu được.” Tác giả bảo Quốc Tế Cộng Sản chính thức tuyên bố giải tán ngày 22-5-1943. Bà nói là từ đó cho đến năm 1947, không có bằng chứng cho thấy Cộng Sản Việt Nam đã nhận được chỉ thị hướng dẫn hay ngân khoản từ Mạc Tư Khoa.

Tác giả viết về hội nghị trung ương kỳ 8:

“Các chính sách đưa ra trong hội nghị trung ương kỳ 8 đã trở thành khuôn thước cho các hoạt động thời chiến của Việt Minh. Nhưng, như những cuôïc nghiên cứu về sự nắm chính quyền của Việt Minh vào tháng 8-1945 cho thấy, những chính sách đó không được phổ biến đồng đều trong nước; cũng không được toàn thể đảng viên chấp nhận. Trong những năm sau đó, con người thực dụng Hồ Chí Minh tiếp tục phải đương đầu với sự chống đối giữa nội bộ đảng trong cố gắng xây dựng một liên hiệp các phần tử yêu nước.”

Qua đoạn này, tác giả cố chứng minh là Hồ Chí Minh bắt đầu điểu khiển đảng đã phải đơn thương độc mã quyết định chính sách và không nhận được viện trợ từ Quốc Tế Cộng Sản, đồng thời còn bị chống đối từ nội bộ đảng. Nhưng Hồ vẫn cương quyết chủ trương lập một liên minh với các phần tử quốc gia yêu nước, để tranh đấu cho nền độc lập của tổ quốc.


Dmitry Manuilsky (1948)
Nguồn: DCVOnline
---------------------------------------------------------------

Từ lập luận đó, tác giả kết luận: “Coi Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương thuần túy là sản phẩm của Quốc Tế Cộng Sản là một sự xuyên tạc vĩ đại” (29) và “Chính tài năng của Hồ Chí Minh... đã bảo đảm cho ông địa vị của một lãnh tụ thành công nhất trong cuộc tranh đấu dành độc lập.” (30) Lời kết luận dù mang tính quả quyết vẫn không đủ sức dập tắt tiếng nói cất lên từ các sự kiện được chính tác giả trưng dẫn về sự lệ thuộc của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Đông Dương vào Quốc Tế Cộng Sản. Đó là những lần Hồ Chí Minh hay đồng chí báo cáo công tác, dự thảo kế hoạch trình lên các cơ quan phụ thuộc của Quốc Tế Cộng Sản, hay những nhân vật đầu não của tổ chức này như Manuilsky chẳng hạn, để xin duyệt và chấp thuận, nhất là những lá thư xin tiền, đề xuất ngân sách cho các chương hành động.

Tác giả đã cho biết trong thời gian thực thi sách lược mặt trận thống nhất dân tộc giữa Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng Trung Hoa tại Trung Quốc, Quốc Tế Cộng Sản đã đặt văn phòng Viễn Đông Vụ (FEB) để giải quyết các vấn đề của vùng này gồm cả Đông Dương. Vậy, dù có lúc không liên lạc trực tiếp được với Quốc Tế Cộng Sản ở Mạc Tư Khoa, không có nghĩa là không nhận được sự giúp đỡ và chỉ thị của tổ chức (qua trung gian FEB hay Đảng Cộng Sản Trung Quốc). Tác giả cũng không nói về liên hệ của Hồ Chí Minh với Noulens tuy nhắc đến tên nhân vật này hai lần. Chính mối liên hệ với Noulens mới quan trọng, chứ không phải liên hệ với Borodin. Vì việc Hồ Chí Minh được cử làm phụ tá và thông dịch cho Borodin chỉ là vỏ bọc cho những công tác quan trọng hơn nhận từ nhân vật đại diện Quốc Tế Cộng Sản, Hilaire Noulens, dù Noulens với tên thực Jakov Rudnik chỉ giữ vai trò trưởng phòng giao thông liên lạc tại Thượng Hải.

Có lẽ tác giả đã bỏ sót tài liệu của Duiker và Hồng Hà kể lại nhiệm vụ đích thực của Hồ Chí Minh chỉ có vợ chồng Borodin biết. Tác giả cũng tỏ ra ít quan tâm tới một điểm quan trọng trong chiến lược sách lược đấu tranh của Cộng Sản do Lênin và Stalin đề ra là các hình thức mặt trận thống nhất, mặt trận dân tộc, mặt trận dân chủ, mặt trận phản đế vv... dù nhắc đến rất nhiều lần, kể cả mặt trận thống nhất mà Liên Xô chủ trương tại Trung Quốc, để hai đảng Quốc-Cộng liên minh trong thế liên minh Xô-Trung.

Liên minh này không xảy ra một lần mà còn tái diễn. Đã có lần cộng đảng bị tảo thanh, đàn áp, nhưng họ vẫn mượn cớ kháng Nhật tiếp tục liên minh với “kẻ thù giai cấp” để có cơ hội lợi dụng thanh thế của Quốc Dân Đảng tìm cách tuyên truyền, vận động, lôi kéo quần chúng nhập cuộc đấu tranh giai cấp của Quốc Tế Cộng Sản. Đây cũng là phương thức mà Hồ Chí Minh đã triệt để áp dụng đối với các đảng phái quốc gia Việt Nam tại Hoa Nam và sau này tại quốc nội mà hậu quả là không biết bao nhiêu nhà ái quốc tên tuổi, không biết bao nhiêu người yêu nước vô danh đã bị đảng cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo thủ tiêu, hãm hại, xô đẩy vào chỗ chết. Tất nhiên không thể bảo phương thức này chỉ cần thiết cho việc giành độc lập tổ quốc chứ không vì quyền lợi của Quốc Tế Cộng Sản.

Sophie Quinn-Judge có vẻ thích thú về ý nghĩ là Hồ Chí Minh không được Quốc Tế Cộng Sản ưu đãi, thậm chí còn bị ngược đãi tới mức có lúc gần như bị giam lỏng, nhưng nhờ biết vận dụng thời cơ, có tài trí ứng phó với thời cuộc, nhất là vì yêu nước thực sự khiến nhân dân triệt để ủng hộ nên đã thành công. Một chứng cớ được đưa ra trưng dẫn cho tình trạng trên là thư của Hồ Chí Minh than phiền phải ở một căn phòng chật chội ồn ào, đầy rệp... tại “khách sạn” Lux, một thứ nhà tập thể. Nhưng cũng chính thời gian đó, tại đại hội đầu tiên của Quốc Tế Nông Dân, Hồ Chí Minh đã được bầu làm một trong 11 ủy viên trung ương. Giữa vị thế quan trọng được xác định và điều kiện cư trú tồi tàn thì vấn đề sau không có ý nghĩa gì. Vả lại, nhiều tài liệu cho biết chính Borodin cũng tạm trú tại khách sạn Lux nên có thể hiểu đó là do tình trạng kinh tế lúc ấy ở Liên Xô.

Một dẫn chứng khác là việc Hồ Chí Minh bị cầm chân hơn 4 năm tại Liên Xô chưa hẳn là do bị ngược đãi mà có thể là do được biệt đãi cho theo học trường Lenin là trường lúc ấy chỉ có riêng Hồ Chí Minh là người Đông Dương duy nhất được học. Sau đó Hồ Chí Minh còn được tham gia thành phần huấn luyện viên của trường Stalin. Thực ra, tác giả gần như không cho biết về công việc của Hồ Chí Minh tại trường Lenin cũng như trường Stalin, dù nhan sách nhằm nói về những năm thiếu vắng trong tiểu sử Hồ Chí Minh mà những năm có mặt tại hai trường này chính là những năm thiếu vắng đó.

Rất có thể Hồ Chí Minh bị lưu lại Liên Xô một thời gian dài do cần điều tra về một số nghi vấn trong khi hoạt động tại Hoa Nam vì sơ sót để bị bắt hoặc vì lý do được nhà cầm quyền Anh tại Hương Cảng phóng thích dễ dàng, đồng thời cũng có thể do mục đích chỉnh huấn, tái tạo giúp Hồ Chí Minh có đủ bản lãnh trở thành một cán bộ đầu não để sau này lãnh đạo đảng Cộng Sản Đông Dương.

Việc được phái trở lại Hoa Nam sau khi mặt trận thống nhất Quốc, Cộng Trung Hoa tái lập chứng tỏ Hồ Chí Minh phải được tin cậy về khả năng vận dụng sách lược mặt trận của Lenin đã thấm nhuần từ đầu và thấu triệt hơn sau khóa học 1935-1936 tại trường Lenin.

Trên thực tế, những việc làm khởi từ đó đã chứng tỏ Hồ Chí Minh mới là người theo chủ nghĩa Lenin thuần thành hơn hẳn các đồng chí như Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ ... và một số đông khác về sự hiểu thấu ý nghĩa và công dụng của sách lược mặt trận thống nhất dân tộc, dân chủ...

Tác giả cho biết chỉ căn cứ vào sự kiện và chỉ nêu những sự kiện có chứng từ lấy từ văn khố Nga và Pháp là chính và cho biết có nhiều chứng từ đã bị mất. Thực ra, dù có đầy đủ cũng không thể quên rằng bên cạnh những chứng từ giá trị luôn luôn không thiếu những chứng từ ngụy tạo về những điều không có thực, trong khi toàn bộ sự nghiệp và con người của một nhân vật nào đó không thể bao quát chỉ bằng những sự kiện có chứng từ. Chỉ dựa vào các sự kiện có chứng từ để nhận diện một nhân vật lịch sử là nền tảng hoàn toàn bất ổn, nhất là với một nhân vật có quá nhiều nghi vấn. Cuối cùng, tác phẩm của Sophie Quinn-Judge cũng không vượt xa hơn nhiều tác phẩm đã có mặt vì chỉ phản ảnh những suy luận chủ quan dựa trên một số chứng từ hạn chế.

--------------------------------------------------------------------------------

DCVOnline: Bài do tác giả gởi. DCVOnline hiệu đính, minh hoạ và đề tựa. Chú thích của tác giả,Nguồn: Hồ Chí Minh, Nhận định tổng hợp, Minh Võ, Nhà xuất bản Tiếng Quê Hương, Tái bản lần 1, Virginia, 2006.

(14) SĐD tr. 119, 275. Chú thích số 17, chương 4, của tác giả ghi: RC, 535,1, 42, p. 68, thư (của Quốc) từ Berlin, ngày 16-12-1927.
(15, 17, 18, 19, 20) SĐD tr. 155, 182-183, 185-186, 192-193, 204.
(16) Xin lưu ý mấy hàng trên đây liên quan đến vấn đề tuyên truyền.
(21)) SĐD tr. 205, trích thư Hà Huy Tập ngày 31-3-1935, và nói bản Nga ngữ không có trong văn khố.
(22) SĐD tr. 222, trích dẫn thư của Hồ nhắc lại các huấn thị và sự kiện này vào tháng 7-1939, tìm thấy trong văn khố Nga mang số RC, 495, 10a, 140, p. 106
(23, 24, 25) SĐD tr. 227, 236 tác giả trích Văn Kiện Đảng, II: 1930-1945 tr. 389, 245-246
(26) Tác giả dùng từ mantle có nghĩa là cái áo khoác bên ngoài. Nếu quan niệm đây là một hoạt động bí mật loại gián điệp, tình báo, thì có thể dùng hai chữ “vỏ bọc” (cover). Chúng tôi tạm dịch bằng chữ “vỏ”, để đối lại với cái nhân (nucleus) được giấu ở bên trong.
(27, 30) SĐD tr. 246, 250- 251
(28) Tác giả để nguyên văn danh xưng bằng tiếng Việt trong ngoặc đơn.
(29) Nguyên văn: “To view Ho Chi Minh and the ICP as purely the creations of the Comintern would be a great distortion”

http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=5191
----------------
Re: Về “Ho Chi Minh, the missing years” (Kết)
2008-07-01 01:21:01

nguyen3112

Ai mang tâm lý kẽ bại trận,kẽ có tội với quê hương?! Phải chăng là ĐCSVN!
PVĐỒNG: "Chúng tôi đã thắng trong chiến tranh,nhưng thua trong hoà bình"(có nghĩa là cuối cùng là thua,sau khi đem khoảng 2 triệu thanh niên Miền Bắc phơi xác,nướng cho chiến tranh! Trong khi nước Đức không tốn 1 giọt máu mà thống nhất,lại THỐNG NHẤT KHÔNG CS!)
Từ ngày LÃO HỒ mở mắt vào đời thì đã có tham vọng làm tai sai ngoại bang(xin học trường thuộc địa Pháp),không được thì làm tai sai Nga(tài liệu đầy trên internet,thời mở cửa),cuối cùng thì được ĐẠI HÁN CHU ÂN LAI thâu nhận và cấy "sinh tử phù" bằng cách gã TĂNG TUYẾT MINH cho!
Và từ đó cho tới hôm nay,với cái chết của VÕ VĂN KIỆT xem như CHỆT PHÙ đã hoàn thành nhiệm vụ cấy "sinh tử phù" !
LÊ DUẨN muốn thoát ra,bằng cách xin làm tai sai cho NGA,cuối cùng GORBACHEV hất nhào NGUYỄN VĂN LINH theo đuôi NGA,thì ĐỖ MƯỜI lại xin đội háng CHỆT cho tới hôm nay. Và muốn vậy phải loại trừ những người còn có chút tinh thần VN như VÕ NGUYÊN GIÁP,NGUYỄN CƠ THẠCH,TRẦN XUÂN BÁCH,... và người cuối cùng là VÕ VĂN KIỆT!
*(GIÁP thì như "gỗ mục",KIỆT thì nói nhiều.lại liên hệ với GIÁP! KỲ ĐÀ KIỆT ngăn trở việc phá di tích LÊ,LÝ,TRẦN và "mở rộng Hà Nội" thì tình báo Tàu phải ra lệnh cho TAI SAI NGỤY HÁN csvn loại KIỆT!
KIỆT từ HÀ NỘI về ngày 21/5 thì 23/5 lâm bệnh phổi,mà Tây Y không tìm ra nguyên nhân!
Trước đây,tôi có công tác bên Tàu,anh thông dịch viên tiếng Tàu của tôi cũng y chang trường hợp ông KIỆT! Bệnh PHỔI mà Y KHOA CANADA không tìm ra nguyên nhân! Nhẹ thì làm "thực vật" chờ chết,nặng thì đi ngay vậy mà tốt! (1 loại độc dược của Tàu,mà Tây Y không tìm ra giấu tích??!))
@Mỹ thì có thương gì VN hay anh ngợm "tưởng thú" DŨNG(CHỆT dùng Baton khống chế thì Mỹ dùng Carotte đánh đcsvn),ngôn từ hay ngoại giao chỉ là phương tiện đưa ngợm làm trò xiếc mà thôi!(cái trò đi dây hết thời rồi!)
Có 1 Lê chiêu Thống đã khổ,có 1 Trần thiện Khiêm VNCH làm tai sai cho C.I.A đã khổ;mà bây giờ có cả 1 đảng NGUỴ HÁN CSVN làm tai sai cho ĐẠI HÁN CHỆT thì VN chỉ còn...CHỜ CHẾT!!